• TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
  • LIÊN LẠC
  • MỤC LỤC
  • SƠ ĐỒ BLOG
  • TỦ SÁCH
  • ĐĂNG NHẬP
  • ĐỌC TIN RSS
  • TRANG CHỦ
  • Tin Tức
    • Thời Sự
    • Xã Hội
    • Phật Giáo
    • Khác
  • BHXH - BHYT
    • Luật
    • Nghị định
    • Thông tư
    • Quyết định
    • Công văn
    • Đề tài
  • Lao Động
    • Luật
    • Nghị Định
    • Thông Tư
    • Quyết Định
    • Công Văn
    • Đề Tài
  • Kế Toán - Kiểm Toán
    • Luật
    • Nghị Định
    • Thông Tư
    • Quyết Định
    • Chuẩn Mực KT-KT
    • Công Văn
    • Đề Tài
  • VĂN BẢN THUẾ
    • Luật Quản Lý Thuế
    • Thuế GTGT
    • Thuế TNDN
    • Thuế TNCN
    • Thuế XNK
    • Thuế TTĐB
    • Các Loại Thuế Khác
    • Các Phần Mềm Kê Khai Thuế
    • Đề Tài
  • TIN HỌC
    • Văn Phòng
    • Ứng Dụng
    • Multimedia
    • Kiến Trúc
  • Văn Hóa
    • Việt Nam
    • Thế Giới
    • Gia Đình
    • Ẩm Thực
    • Thời Trang
  • Chia Sẻ
    • Hình Ảnh
    • cá nhân
    • Bạn Bè
    • gia đình
    • Người Thân
  • Thư Giãn
    • Âm Nhạc
    • Phim Ảnh
    • Thể Thao
    • Hài Hước
Hiển thị các bài đăng có nhãn chia sẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Hồi trước đến giờ, tôi cũng hay nhầm lẫn mấy khái niệm này. Sưu tầm 1 số bài viết của các tác giả paulsteigel, Lao Trangtu,... để cùng nhau được rõ thêm. Bài viết này mang tính chia sẻ dành cho những người lớn tuổi không có điều kiện đi học tin học bài bản như tôi.


1. Bảng mã và font chữ (Viết bởi: LaoTrangtu)

Bảng mã, Font và Unicode

Về mặt cơ bản, máy tính làm việc với con số. Bản thân mỗi chữ cái (mỗi ký tự) cũng được gắn cho một con số nào đó để máy tính có thể hiểu. Hệ thống các con số dùng để thể hiện tất cả các chữ cái và ký hiệu của một (hay nhiều) ngôn ngữ gọi là bảng mã.

Bảng mã chuẩn đầu tiên cho máy tính có tên là ASCII (American Standard Code for Information Interchange). ASCII chuẩn 7-bit cho phép hiển thị 128 ký tự (bao gồm chữ cái, số và các ký tự đặc biệt khác như “?”, “.”, “*” v.v.). Mỗi ký tự trong ASCII sử dụng một byte và khi tập hợp lại, ASCII cho phép hiển thị thêm 128 ký tự khác nữa (tổng cộng là 256 ký tự). Phần tập hợp này gọi là ASCII mở rộng (Extended ACSII) hay ASCII 8-bit.

Một tập hợp các chữ cái và ký hiệu thể hiện tất cả các ký tự trong một bảng mã với cùng một kiểu hiển thị được gọi là font. Nói cách khác, font là hình thức mà một bảng mã được thể hiện trên màn hình máy tính hoặc trên trang giấy khi in ra. Bất cứ điều gì thuộc về ký hiệu ngôn ngữ được thể hiện trên máy tính đều phải theo một font nào đó, thuộc một bảng mã nào đó. Thường font bao giờ cũng có khả năng thể hiện dưới 4 dạng khác nhau: bình thường, đậm, nghiêng và in hoa.

Unicode là một bảng mã mới (có thể gọi là dạng mở rộng (rất rộng) của bảng mã ASCII), sử dụng 2 byte cho mỗi ký tự và có khả năng thể hiện 65.536 ký tự khác nhau, cho phép biểu đạt mọi ký tự của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Nói cách khác, với Unicode, mỗi ký tự của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới sẽ có một con số riêng cho mình trong bảng mã. Các font chữ theo chuẩn Unicode được gọi là font Unicode.

Font tiếng Việt kiểu cũ

Có thể dễ dàng thấy ngay điểm yếu của ASCII, đó là chỉ hỗ trợ tốt bảng chữ cái của tiếng Anh. Để thể hiện nhiều thứ tiếng khác, lập trình viên phải tạo ra các bảng mã khác dựa trên ASCII 8-bit. Một số bảng mã tiêu biểu kiểu này đối với tiếng Việt là TVCN3 (ABC 2.1), VNI, BK HCM...

Các bảng mã trên giải quyết được vấn đề thể hiện các ký tự đặc biệt trong tiếng Việt (dấu, dấu móc và dấu mũ), tuy nhiên có cùng một nhược điểm rất lớn là không tương thích lẫn nhau và với các font có sẵn của các hệ điều hành. Cụ thể, một văn bản được soạn thảo bằng font .Vntime (của bảng mã TVCN3) trên máy tính A sẽ không được thể hiện một cách chính xác trên máy tính B, nếu máy tính B không có font .Vntime (hoặc tương tự) được cài đặt. Nhiều trường hợp ngay cả khi font này đã được cài đặt, việc thể hiện font vẫn không chính xác (như lỗi chữ “ư” phổ biến). Sở dĩ có sự không tương thích lẫn nhau giữa các bảng mã tồn tại là vì những người sáng lập ra các bảng mã đó không có sự đồng nhất trong việc sắp đặt chữ cái nào sẽ được con số nào thể hiện trong từng bảng mã.

Sự không tương thích trên khiến việc trao đổi thông tin (đặc biệt là giữa các miền và giữa trong và ngoài nước) gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đối với những người không có chuyên môn về máy tính.

Cách giải quyết duy nhất là tất cả cùng sử dụng chung một bảng mã. Và việc sử dụng Unicode - bảng mã chuẩn quốc tế - để thể hiện tiếng Việt có thể nói là hợp lý và “hợp thời” nhất.

2. Gõ tiếng Việt với Unicode

Với font tiếng Việt kiểu cũ, để gõ được tiếng Việt cần có hai điều kiện: Font chữ và bộ gõ dành cho font chữ đó. Với font Unicode, thì chỉ còn cần bộ gõ thôi. Tuy nhiên, không phải phiên bản nào của hệ điều hành Windows cũng có sẵn font Unicode.

Các hệ điều hành Windows 2000 và Windows XP hỗ trợ rất tốt Unicode (hầu hết các font có sẵn trong hệ thống đều theo chuẩn Unicode). Với các hệ điều hành còn lại (Windows 98/95/NT) thì người dùng có thể tải font Unicode về rồi cài vào máy. Tuy nhiên, nếu có thể thì tốt nhất là nên sử dụng Windows 2000 hoặc Windows XP.

Về bộ gõ, hiện thời phổ biến nhất là Vietkey và Unikey. Tuy nhiên, Unikey tốt hơn bởi một số lý do chính sau:

- Unikey miễn phí và mã nguồn mở. Người dùng có thể tải mã nguồn về và sửa chữa. Vietkey là chương trình thương mại và người dùng phải mua để sử dụng.
- Unikey có kèm phần mềm chuyển mã và cho phép chuyển đổi rất nhiều mã khác nhau
- Unikey (phiên bản 3.5) có tùy chọn để không sử dụng “clipboard” của Windows khi gõ tiếng Việt bằng font Unicode. Điều này tránh được lỗi cách chữ hoặc mất chữ mà Vietkey hay mắc phải.

Ngoài Unicode ra, cả Vietkey và Unikey đều hỗ trợ các bảng mã cũ khác. Tương tự như Vietkey, Unikey không yêu cầu “cài đặt”. Để sử dụng chỉ cần tải phần mềm này về và chạy file có tên UnikeyNT.exe. Hướng dẫn có thể được tìm thấy tại trang web của tác giả Phạm Kim Long.

Lưu ý:

- Khi gõ tiếng Việt sử dụng bộ mã Unicode, cần đảm bảo font chữ đang dùng phải là thuộc bảng mã Unicode. Tốt nhất là nên sử dụng các font “Arial” hoặc “Times New Roman”.
- Không sử dụng các bộ gõ cũ (dành cho các hệ điều hành 16-bit như DOS hay Windows 3x) cho các hệ điều hành 32-bit (Windows 9x/NT/2K/XP). Các bộ gõ cũ (ví dụ: ABC 2.1) khi cài đặt thường thay đổi font hệ thống của hệ điều hành (thường là Unicode) thành font hệ thống kiểu cũ (ASCII) và khiến hệ điều hành không hỗ trợ được Unicode nữa.

3. Đọc tiếng Việt trên mạng với Unicode

Để đọc tiếng Việt (được soạn thảo bằng font Unicode) trên mạng Internet cần có 2 điều kiện:

- Hệ điều hành hỗ trợ Unicode (xem phần trên).
- Trình duyệt (browser) hỗ trợ Unicode: Các trình duyệt phổ biến như Internet Explorer 5.x (hoặc mới hơn), Netscape 4.7 (hoặc mới hơn) hỗ trợ rất tốt Unicode. Trái lại, trình duyệt Opera hỗ trợ Unicode rất kém.

Nếu có cả hai điều kiện trên mà vẫn không đọc được thì cần chuyển trạng thái hiển thị hiện thời sang Unicode. Đối với Internet Explorer, cách làm như sau: Chọn menu “View” -> Encoding… -> More (nếu cần) -> Unicode (UTF-8).

Lưu ý: Ngày càng nhiều trang web thể hiện tiếng Việt bằng font Unicode, tuy nhiên vẫn có một số sử dụng font kiểu cũ. Trong trường hợp đó, cần cài thêm font kiểu cũ vào máy thì mới có thể xem được. Tuy nhiên, nếu trang web này bị lỗi (ví dụ: mất chữ “ư”), thì cũng không nên sử dụng các phần mềm để sửa lỗi này. Sử dụng các phần mềm như vậy sẽ làm hỏng sự ổn định của hệ thống.

Để đọc được Unicode thông qua e-mail còn cần thêm một điều kiện nữa là chương trình e-mail (e-mail client) phải hỗ trợ Unicode. Ngoài ra, khi gửi thư, cần gửi dưới dạng Unicode. Nếu sử dụng Outlook Express, trình này sẽ hỏi về dạng font của thư trước khi gửi đi (chọn “Send as Unicode”).

Hiện thời, trong số các trình hội thoại trực tuyến (chat client) phổ biến thì chỉ có Windows Messenger (còn được gọi là MSN messenger) là hỗ trợ Unicode.

4. In tiếng Việt với Unicode

Hầu hết các máy in mới đều có thể in văn bản được soạn thảo bằng Unicode. Với những trường hợp không in được tiếng Việt bằng font Unicode thì nguyên nhân chủ yếu là do các máy này không “hiểu” font Unicode và tự động thay thế bằng một font khác có sẵn trong máy in.

Cách khắc phục khác nhau tùy theo từng máy in cụ thể, nhưng cũng có một số điểm chung. Trước hết cần làm như sau: Start -> Settings - Printers - > Bấm chuột phải vào biểu tượng của máy in -> chọn Properties. Tiếp theo, tại của sổ của Properties, di chuyển giữa các tab (thẻ) và thay đổi các thông số theo một hoặc tổng hợp những cách sau (nếu có):

- Chuyển giá trị của "Spooling data format" sang "RAW".
- Chọn và sử dụng chức năng "Always use True type Fonts".
- Chọn để máy in “Download font” từ máy tính trước khi in.
- Chọn để máy in không thay thế (Substitute) font trước khi in.
- Chọn chức năng “Print Text as graphics”.

Ngoài ra, tải về trình điều khiển (driver) mới nhất và cài lại cho máy in cũng sẽ giúp máy in hoạt động tốt với Unicode trong hầu hết các trường hợp.

Đông Ngô

========================================================== 
Tổng quan về bộ mã Unicode

Việc sử dụng nhiều bảng mã khác nhau trong cùng một nước là một trở ngại lớn trong việc phát triển các hệ thống thông tin lớn. Bảng mã quốc gia chuẩn hiện nay của chúng ta - TCVN5712 là bảng mã một byte, chưa chứa đủ các vị trí để mã hoá tất cả các chữ cái tiếng Việt, bộ mã này gặp phải những tranh chấp với nhiều ứng dụng phổ thông thông như MS Office, đặc biệt là với Internet Explore 5 và MS Publishing 2000, chữ “ư” sẽ không hiển thị được trên các trang Web hoặc bị ngắt dòng sai. Ngoài ra còn vô số các bảng mã một và hai byte (VNI, VPS, ...) càng khiến cho vấn đề trở nên rắc rối hơn.

Unicode ra đời là nhằm khắc phục các nhược điểm nói trên và nhằm xây dựng một bộ mã chuẩn vạn năng dùng chung cho tất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới. Đối với Việt Nam, Unicode thể hiện được đầy đủ các kí tự của tiếng Việt, cả hoa lẫn thường, không bị xung đột với các kí tự điều khiển, cho phép sử dụng song song với các ngôn ngữ khác.

Unicode côngxoocxiom được thành lập vào năm 1991 như 1 tổ chức phi lợi nhuận nhằm phát triển chuẩn Unicode, các thành viên của Unicode công xoóc xiông bao gồm các công ty hàng đầu của thế giới trong lĩnh vực phần mềm như Adobe, Aldus, Borland, Digital, GO, IBM, HP, Lotus, Metaphor, Microsoft, NeXT, Novell, Sun, Symantec, Taligent, Unisys, and WordPerfect ...

Unicode là bộ mã ký tự 16-Bit, tương thích hoàn toàn với chuẩn quốc tế ISO/IEC 10646-1; 1993. Với 65.536 ký tự Unicode hầu như có thể mã hoá tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Ngoài ra với cơ chế mở rộng UTF-16 Unicode và chuẩn ISO 10646 còn cho phép mã hoá hơn 1 triệu ký tự mà không cần phải dùng đến mã điều khiển Escape.

Phiên bản mới nhất hiện nay là Unicode 2.0 (Bản 3.0 đang chuẩn bị phát hành) bao gồm các ngôn ngữ thuộc họ la-tinh, và Greek, Cyrillic, Armenian, Hebrew, Arabic, Devanagari, Bengali, Gurmukhi, Gujarati, Oriya, Tamil, Telugu, Kannada, Malayalam, Thai, Lao, Georgian, Tibetan, Japanese Kana, the complete set of modern Korean Hangul, and a unified set of Chinese/Japanese/Korean (CJK).

Chuẩn Unicode mô tả các ký tự ngôn ngữ, các dấu chấm câu, dấu phụ, ký hiệu toán học, các dấu mũi tên và các ký hiệu Dingbats. Hiện nay Unicode đã định nghĩa khoảng 39 000 ký tự. Còn khoảng 18.000 ký tự sẽ được định nghĩa nay mai, 917 504 ký tự có thể được định nghĩa nếu dùng cơ chế mở rộng UTF-16. 6.400 chỗ được dành ra cho các hãng sử dụng với các mục đích riêng của mình. UTF-16 cũng dành ra 131.072 ký tự để dành cho những mục đích dùng riêng.

Các chuẩn mã hoá ký tự không chỉ định nghĩa các mã của các ký tự, giá trị số, và vị trí của các ký tự mà còn định nghĩa cả cách biểu diễn các mã ký tự dưới dạng bit. Unicode và ISO-10646 quy định 2 cơ chế, khuôn dạng chuyển đổi là UTF-8 và UTF-16.

Unicode tránh đến mức tối đa việc định nghĩa dư thừa, trùng lặp. Ví dụ ký tự “é” chỉ có 1 mã duy nhất dùng chung cho cả ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Czech, ....cũng chính vì thế nên hệ thống chữ Việt có các mã nằm rải rác ở nhiều ví trí không liền nhau. Tiếng Hán, Nhật và Hàn có khoảng 10 nghìn ký tự trùng nhau nên chúng được dùng chung cho cả 3, tuy nhiên trong Unicode vẫn có các vùng riêng để định nghĩa những ký tự đặc thù của 3 ngôn ngữ này.

Unicode về cơ bản không quy định việc bố trí các ký tự theo quy định sắp xếp của các ngôn ngữ, điều này cũng là hệ quả của việc tránh định nghĩa các ký tự dư thừa do phải tận dùng các ký tự dùng chung nên không thể bố trí các ký tự theo từng vùng riêng cho từng ngôn ngữ được.

Unicode đã được cài đặt trong các hệ điều hành Windows NT, Windows 9.x, MacIntosh (MacOS 8), BE OS, Linux...

Windows NT sử dụng Unicode như là nền tảng trong hệ điều hành, các xâu ký tự được xử lý như là xâu Unicode, Resource, tên File trong NTFS cũng là Unicode. Tuy nhiên để tăng tính tương thích Windows NT vẫn có các hàm API để xử lý ký tự mã 8-Bit. Windows NT 5.0 hỗ trợ hơn 100 ngôn ngữ khác nhau trong đó có cả tiếng Việt.

Ngược lại Windows 9.x không lấy Unicode làm nền tảng nội tại trong hệ điều hành, tuy nhiên Win9.x lại có 1 số hàm hỗ trợ cho việc xử lý và hiển thị mã Unicode.

Muốn sử dụng được Unicode cần phải có những phần mềm hỗ trợ hiển thị hoặc cho phép gõ ký tự theo chuẩn Unicode, ngoài ra cũng cần phải có Font chữ Unicode được cài đặt trong hệ thống.

Hiện nay trong môi trường Windows, bộ MS Office 2000 (Word, Excel, Powerpoint...) hỗ trợ rất tốt bộ mã Unicode. Trong môi trường Mạng Internet Expolore 5.x, Netscape 4.x cũng cho phép hiển thị các trang Web được thiết kế theo chuẩn Unicode.

Cài đặt tiếng Việt Unicode

Để hiển thị tiếng Việt Unicode cần phải cài đặt font chữ Unicode, chỉ cần cài 1 trong các phần mềm sau: Internet Explore 5 hoặc MS Office 2000 trong Windows 95/98 hoặc cài đặt Windows 2000. Khi cài đặt 1 trong những phần mềm trên các font Unicode có tiếng Việt sẽ được tự động cài đặt hệ thống. Các font cơ bản của Microsoft đi kèm với các phần mềm trên đã hỗ trợ tiếng Việt Unicode là Times New Roman, Arial, Courier, Tahoma, Ngoài ra có thể tải xuống các font Unicode (có hỗ trợ tiếng Việt) khác trên Internet: Verdana, Arial Narrow, Arial Black, Bookman Old Style, Garamond, Impact, Lucida Sans. Comic Sans...

Gõ tiếng Việt Unicode với Windows 2000 (Bản English) chỉ cần cài đặt thêm ngôn ngữ tiếng Việt bàn phím tiếng Việt theo chuẩn TCVN sẽ được cài đặt và cho phép bạn gõ tiếng Việt (Một kiểu gõ gần giống với kiểu gõ VNI).

Windows 95, 98 (Bản English): tải xuống Vietnamese Support trong http://support.micosoft.com/, cài đặt Vi.inf để có được bộ gõ tiếng Việt Unicode theo tiêu chuẩn bàn phím TCVN. Trong cả 2 môi trường Windows NT và Windows 9.x Microsoft có hỗ trợ cả Local cho tiếng Việt do đó các tính năng tìm kiếm, xắp sếp tiếng Việt cũng được hỗ trợ, ngoài ra Local tiếng Việt cũng hỗ trợ cả cách đánh chữ số hay cách đặt ngày tháng theo quy định của Việt nam.

Bàn phím tiếng Việt do Microsoft hỗ trợ chỉ có 1 kiểu duy nhất là TCVN, sẽ gây khó khăn cho những người quen với kiểu gõ Telex hoặc VNI. Để có kiểu gõ quen thuộc trong cả 2 môi trường Windows NT, Windows 9.x bạn có thể dùng bộ gõ VietKey.


========================================================== 
1. Mã: (Viết bởi: paulsteigel)
Khỏi phải bàn nhiều - quý vị chắc đều hiểu rồi.
 ----Quoted----
"Về mặt cơ bản, máy tính làm việc với con số. Bản thân mỗi chữ cái (mỗi ký tự) cũng được gắn cho một con số nào đó để máy tính có thể hiểu. Hệ thống các con số dùng để thể hiện tất cả các chữ cái và ký hiệu của một (hay nhiều) ngôn ngữ gọi là bảng mã.

Bảng mã chuẩn đầu tiên cho máy tính có tên là ASCII (American Standard Code for Information Interchange). ASCII chuẩn 7-bit cho phép hiển thị 128 ký tự (bao gồm chữ cái, số và các ký tự đặc biệt khác như “?”, “.”, “*” v.v.). Mỗi ký tự trong ASCII sử dụng một byte và khi tập hợp lại, ASCII cho phép hiển thị thêm 128 ký tự khác nữa (tổng cộng là 256 ký tự). Phần tập hợp này gọi là ASCII mở rộng (Extended ACSII) hay ASCII 8-bit."

2. Phông (Font) chữ
Hì hì - Là cái phông đèn chiếu thôi.
"A design for a set of characters. A font is the combination of typeface and other qualities, such as size, pitch, and spacing. For example, Times Roman is a typeface that defines the shape of each character. Within Times Roman, however, there are many fonts to choose from -- different sizes, italic, bold, and so on. (The term font is often used incorrectly as a synonym for typeface.)"
"Là thiết kế cho bộ ký tự. Phông là sự kết hợp của kiểu chữ và các tiêu chí khác như: Kích thước, độ nghiêng và cách quãng. Ví dụ bộ Times Roman là kiểu chữ quy định hình dạng của mỗi ký tự. Trong bộ Times Roman, có nhiều phông chữ để chọn với các tiêu chí khác nhau về kích thước, in nghiêng, in đậm... 
(Thuật ngữ font thường bị dùng không chính xác như là từ đồng nghĩa của kiểu chữ)"
Để cho ta xem lên màn hình các chữ có thể đọc được thì cần có bộ Hiển thị Phông chữ (Font Engine).

Vậy thì (giải thích trực quan một tí):
+ Phông giống như cái kính màu hoặc gương biến dạng theo đó với vật thể (bộ mã) được chiếu sáng (Bộ hiển thị), ta có thể thấy hình ảnh của nó qua gương bị thay đổi lúc thì dài ra, lúc xoắn lại... nhưng đối với máy tính thì khác sinh động hơn, ta có thể làm cho vật thể ví dụ con mèo thành con voi, hoặc con chuột thông qua phông chữ.
+ Hiện có 2 bộ phông chính là phông ánh xạ ảnh (bitmap font) và phông ánh xạ véc tơ (Vector font).

Tiếng Việt cho máy tính hiện nay có thể coi là khá phức tạp (chúng ta chỉ có 134 nguyên âm định dấu ví dụ ă ắ ư....). Vấn đề chọn bộ mã nào cho phù hợp thì còn tranh cãi nhiều
 + Ở TCVN mà người bắc hay sử dụng theo đó để hiển thị họ dùng các phông chữ dạng .Vn thì người ta lấy 77 mã trong bộ 256 ký tự ASCII để phản ánh 134 nguyên âm nói trên. Nên đôi khi bạn cũng khổ khi thấy WORD hiển thị dấu cách là chữ ả... ví dụ "§" = đ. ¾=ắ. Điều này vì thế khi cần hiển thị chữ hoa thì họ dùng bộ phông .vn..H. Qua các phông chữ hoa này thì ¾=Ắ.
+ Với Unicode thì phân ra hai loại:
- Mã tổ hợp: đại loại giống với việc viết chữ xong thêm dấu và mũ ví dụ dd=đ. đặng = dda(.ng.
- Mã dựng sẵn: họ trích ra trong bộ Unicode 134 mã để định nghĩa nguyên âm cho tiếng Việt. Cái này được dùng hầu hết hiện nay trong các trang web.
Unicode thì có đủ cả nguyên âm hoa và thường cho tiếng việt - nên khi chuyển đổi mã cũng không khó lắm nhất là từ VNI sang Unicode hoặc một số bộ mã 2 bytes khác.
+ Vậy vấn đề nói trên là rõ rồi đúng không.
Hiện nay các bạn nghe nhiều đến việc chuyển đổi bảng mã sang Unicode... thực ra đó chỉ là xác định các ký tự tương ứng từ bộ mã này sang bộ mã kia để thay thế mà thôi. Tuy nhiên, do tính chất phong phú của bộ mã tiếng việt hiện nay nên đến giờ việc chuyển đổi bảng mã vẫn chưa có một công cụ nào thực sự giải quyết triệt để vấn đề...

Nguồn: Diễn đàn tin học.


==========================================================
Đọc thêm về Unikey

Đọc thêm về Unicode

Đọc thêm từ ASCII đến Unicode
Đọc thêm về Bộ gõ tiếng Việt - Unikey 


Nội dung trao đổi:

- Một số nội dung cần lưu ý khi quyết toán thuế TNCN 2011
- Cập nhật văn bản mới ban hành

- Giải đáp vướng mắc khi sử dụng phần mềm HTKK 3.1.1

Thời gian và địa điểm:

Thời gian: 8h15-11h30 ngày 25/02/2012 (sáng thứ 7).
Địa điểm: Hội Trường lầu 5 - TT Công Nghệ Phần Mềm Sài Gòn (SSP)

123 Trương Định, Phường 7, Quận 3, TP.HCM

Báo cáo viên:

Ông Vũ Đức Hiển – P.TTHT Cục Thuế TP.HCM
Ông Nguyễn Chí Tâm - P. Tin học Cục Thuế TP.HCM
 
Mọi chi tiết tham khảo thêm tại trang chủ của webketoan

Có 1 tâm sự buồn do thấy cái nhìn của 1 con người quá ấu trĩ

Đôi khi tôi phải thử tập nhậu, tập đi, tập đứng, tập nhịn khóc, tập cười,...tất cả đều phải học tập để xem khả năng của mình như thế nào? Không ngờ cũng ép phê, có người quan tâm đến
nhiều nơi - (Còn biết ghi nhận lại Nguồn gốc bài viết - không đến độ sống vô cảm, lướt web với công nghệ C and P "Copy and Paste", cướp công sức người đã bỏ công ra ngồi viết bài để đưa bài vào diễn đàn của mình) và nhiều nơi khác. Nghĩ lại cũng không tiếc công sức ngồi học hỏi của mình để ứng dụng và chia sẻ.

Có người bảo có ngày ông bị ban nick vĩnh viễn đấy, ông mà đi cạnh tranh với các diễn đàn khác thì đời ông toi không hay lúc nào. Ôi tại sao ấu trĩ, nghĩ thế nhỉ, cái link của mình share có mục đích gì? Quảng cáo để lấy tiền ư? Hay là kênh thứ 2 phân phối thông tin dùm cho các bác nhỉ? Blog thì nhỏ xíu làm được chi, không lẻ 1 con én tạo nên 1 muà xuân. Lực lượng, đội ngũ thỉ chả có.


Chắc chưa hiểu được hết lý do gì phải có cái blog này. Chả qua là để viết bài thuận lợi hơn, có thể ứng dụng (dùng code html, flash,.......) để kẻ bảng và nhiều việc khác để minh hoạ trực quan hơn.


Cái tên blog rất dễ hiểu, rất gần gũi, thân thương với các bạn đang làm công tác kế toán: TRI THỨC KẾ TOÁN, logo KB (Knowledge Base - Cơ sở tri thức); mục đích hệ thống lại kiến thức cho cá nhân mà với mỗi cá nhân thì không đủ sức để viết bài, nhiều bài viết còn đang ở nháp vẫn chưa xuất bản đưa hẳn lên.




Đơn giản Blog http://trithucketoan.blogspot.com/ là thế.

Từ tâm sự trên, tôi mới ngộ ra câu truyện:

Con voi sợ con kiến. Con voi thì bụng to đầu nhỏ trong khi con kiến đầu to mình thì nhỏ. 

Blog trithucketoan (http://trithucketoan.blogspot.com/) vẫn luôn mong các bạn quan tâm đóng góp để cho blog mỗi ngày có nhiều bài hữu dụng, bổ ích hơn để chia sẻ cho các bạn đang làm công tác kế toán, nhân sự.


Ảnh mang tính minh hoạ

1.- Hợp đồng mua bán nhà tính bằng ngoại tệ là vi phạm pháp luật

12:30 PM, 09/02/2012

(Chinhphu.vn) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẳng định, việc hợp đồng mua bán nhà có nội dung "giá bán tính bằng USD" là vi phạm quy định pháp luật về ngoại hối.

Gia đình ông Ngô Nhật Thái (Ba Đình, Hà Nội; email: nnthai3yt@...) ký hợp đồng mua nhà với Sàn giao dịch bất động sản từ tháng 6/2009 với giá tính bằng đô la Mỹ (USD) và quy định khi thanh toán (theo từng đợt) sẽ trả bằng Việt Nam đồng quy đổi theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán.

Đến tháng 10/2011, gia đình ông Thái đã trả khoảng 70% tổng giá trị nhà, phần còn lại sẽ thanh toán khi nhận nhà.

Tuy nhiên, theo ông Thái được biết, Nghị đinh 95/2011/NĐ-CP ngày 20/10/2011 của Chính phủ quy định, các tổ chức kinh doanh không được phép ghi giá và thanh toán dịch vụ bằng ngoại tệ.



Ông Thái đề nghị cơ quan chức năng cho biết, ông có thể yêu cầu Sàn giao dịch bất động sản cho phép ông thanh toán phần giá trị còn lại của ngôi nhà theo tỷ giá USD tại thời điểm ký hợp đồng không?

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giải đáp thắc mắc của ông Thái như sau:
Tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối quy định: "Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các giao dịch với tổ chức tín dụng khác, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, ủy thác, đại lý và các trường hợp cần thiết khác được Thủ tướng Chính phủ cho phép".

Đồng thời, Điều 29 Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam và đưa ra các trường hợp cụ thể được loại trừ, trong đó không bao gồm hành vi "thỏa thuận giá cả hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ".

Căn cứ các nội dung trên, việc hợp đồng mua bán nhà có nội dung "giá bán tính bằng USD" là vi phạm quy định pháp luật về ngoại hối.

Về đề nghị của ông Thái liên quan đến việc thanh toán hợp đồng, tại Điều 388 Bộ luật Dân sự quy định: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự".

Tại khoản 1 Điều 423 Bộ luật Dân sự quy định: "Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".
Ngoài ra, khoản 1 Điều 389 Bộ luật Dân sự về các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự quy định: "Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội".
Như vậy, việc giao kết hợp đồng dân sự là thỏa thuận của các bên và các bên và các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng nhưng không được trái pháp luật.

Do đó, liên quan đến đề nghị của ông Thái về việc "ông có thể yêu cầu được thanh toán cho Sàn giao dịch bất động sản theo tỷ giá tại thời điểm ký hợp đồng không", Ngân hàng Nhà nước thấy rằng, việc giao kết hợp đồng với nội dung "giá bán tính bằng USD" là vi phạm quy định pháp luật về quản lý ngoại hối, trái với quy định tại Khoản 1 Điều 398 Bộ luật Dân sự.
Việc thanh toán số tiền còn lại của Hợp đồng do các bên thỏa thuận và phải tuân thủ theo quy định pháp luật về quản lý ngoại hối.

Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng cảm ơn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có thông tin giải đáp công dân qua Cổng TTĐT Chính phủ.

Phòng Thông tin phản ánh của tổ chức, công dân



2.- Một số vướng mắc khi áp dụng các quy định pháp luật về ngoại hối hiện nay (Bản pdf tại đây)


ThS. Nguyễn Thùy Trang*


Thực hiện Nghị quyết số 02/2011/NQ-CP ngày 9/1/2011, Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP ngày 01/3/2011 của Chính phủ, Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 1/3/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước,  năm 2011, các hoạt động giao dịch, niêm yết, thanh toán, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam đã, đang và sẽ được siết chặt quản lý theo đúng các quy định về quản lý ngoại hối của Nhà nước. Nhưng, quản lý như thế nào, xử lý ra làm sao vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Chấn chỉnh việc sử dụng đồng tiền Việt Nam, ngăn chặn tình trạng đô la hóa nên được xem xét từ gốc, đó là các quy định của pháp luật, sau đó là việc thực thi và vận dụng các quy định đó trên  thực tế. Trong bối cảnh kinh tế thị trường mở cửa, giao dịch thông thương giữa các quốc gia ngày  càng  mở rộng, đồng tiền Việt Nam đang chịu sức ép nặng nề của vấn đề lạm phát và mất giá, để đối phó  với các quy định pháp luật về ngoại hối, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn những phương thức khá “linh hoạt” nhằm bảo toàn giá trị nguồn tiền của mình trong các giao dịch vốn và giao dịch vãng lai.


1. Các quy định pháp luật hiện hành

Từ các quy định của Pháp lệnh và Nghị định về quản lý ngoại hối…

Điều  22,  Pháp  lệnh  Ngoại  hối  số  28/2005/PL-UBTVQH11  ngày
13/12/2005 của Ủy ban Thường vụ quốc hội (sau đây gọi tắt là PL số 28) “Quy định hạn chế sử  dụng ngoại hối: Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các giao dịch với tổ chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, ủy thác, đại lý và các trường hợp  cần thiết khác được Thủ tướng Chính phủ cho phép”.

 Điều 29, Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/006 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Ngoại hối quy định “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối trừ các trường hợp sau: …”. Tiếp sau đó, là 12 trường hợp được phép giao dịch bằng ngoại hối. Nếu tổ chức, cá nhân không thuộc 12 trường hợp đã được liệt kê sẽ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ngoại hối. 


Đến hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao:

Nghị  quyết  số  04/2003/NQ-HĐTP  ngày  27/5/2003  của  Hội  đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế, điểm b, khoản 3 mục I quy định: “Nếu trong nội dung hợp đồng kinh tế, các bên có thỏa thuận giá cả,
thanh toán bằng ngoại tệ, trong khi đó, một hoặc các bên không được phép thanh toán bằng ngoại tệ, nhưng sau đó, các bên có thỏa thuận thanh toán bằng đồng Việt Nam hoặc trong nội dung của hợp  đồng kinh tế, các bên thỏa thuận ngoại tệ làm đồng tiền định giá (để đảm bảo ổn định giá trị của hợp đồng) nhưng việc thanh toán là bằng Đồng Việt Nam, thì hợp đồng kinh tế không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và do đó, không bị coi là vô hiệu toàn bộ”.


2. Việc áp dụng các quy định pháp luật trên thực tế

Khi nghiên cứu các quy định trên, hẳn chúng ta đều nhận thấy sự mâu
thuẫn giữa pháp lệnh, nghị định và hướng dẫn của Tòa án liên quan đến vấn đề niêm yết, giao dịch bằng ngoại hối. Cho đến thời điểm này, nhiều tòa án vẫn áp dụng điểm b, khoản 3 Nghị quyết  04/2003/NQ-HĐTP để xem xét
hợp đồng vô hiệu. Vậy việc xem xét này có phù hợp với quy định pháp luật
hiện hành hay không? Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm trái ngược.

a) Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc căn cứ vào điểm b, khoản 3 mục I Nghị quyết 04/ 2003 là hợp lý. Lý do:
- Pháp lệnh Ngoại hối chỉ cấm các hành vi sau “giao dịch, thanh toán,
niêm yết, quảng cáo” thực hiện bằng ngoại hối. Nhưng giá ghi trong hợp đồng không thuộc các trường hợp trên, thậm chí căn cứ theo Luật Sở hữu trí tuệ, giá trong hợp đồng, nhiều khi còn được coi là “bí mật kinh doanh” nếu giá cả hàng hóa đó không thuộc các trường hợp phải đăng ký, kê khai hay niêm yết theo quy định của pháp luật về giá. Trên thực tế, hầu hết giá cả của hàng hóa là do các bên tự thỏa thuận, và các bên có quyền thỏa thuận về việc công khai hay giữ bí mật về giá cả trong hợp đồng. Do vậy, nếu như có cam kết giữ bảo mật hoặc giá không thuộc trường hợp phải niêm yết công khai, thì việc ghi giá trong hợp đồng sẽ không thuộc một trong bốn hành vi trên và đương nhiên, trong trường hợp này, việc ghi giá bằng ngoại tệ không trái các quy định về quản lý ngoại hối.
- Căn cứ vào tình hình thực tế, mục đích quản lý của Nhà nước là hạn chế hoặc nghiêm cấm các  giao dịch, thanh toán bằng ngoại tệ đối với các hợp đồng ký kết và thực hiện trong lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, chỉ cần các bên thực hiện việc thanh toán bằng Việt Nam đồng thì hợp đồng đó vẫn được chấp nhận khi giải quyết tranh chấp tại tòa án.


- Căn cứ vào lợi ích của các bên và xu hướng phát triển các quan hệ kinh doanh thương mại  hiện nay, các doanh nhân có quyền lựa chọn cho mình những giải pháp an toàn nhất đối với khoản tiền của mình, và việc lấy tỷ giá làm cơ sở xác định giá trị hợp đồng sẽ giảm cho họ những rủi ro trượt giá. Hơn nữa, có nhiều hợp đồng giữa những người cư trú hoặc không cư trú
trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng nguồn hàng lại nhập từ nước ngoài, thì việc định giá bằng đồng Việt Nam trong hợp đồng sẽ gây rủi ro cho người bán hoặc người mua nếu tỷ giá tăng hoặc giảm.
- Đương nhiên, một căn cứ pháp lý mấu chốt không thể bỏ qua, đó chính là quy định tại điểm b, khoản 3 mục I, Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP của HĐTP TANDTC.

b) Quan điểm thứ hai lại cho rằng, đối với mọi giao dịch được thực hiện trên lãnh thổ Việt  Nam, phải được thể hiện bằng đồng Việt Nam.  

Những người bảo vệ quan điểm này đưa ra những lý lẽ sau:

- Căn cứ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. Khái niệm của các hành vi “giao dịch”, “niêm yết”, “quảng cáo” khá chung chung, nên sẽ chia làm các trường hợp:

Trường hợp 1: Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa mà giá hàng
hóa thuộc diện phải đăng ký, kê khai hay niêm yết theo quy định của Nhà
nước thì việc ghi giá trên hợp đồng bắt buộc phải bằng đồng Việt Nam.

Trường hợp 2: Đối với các hàng hóa không thuộc trường hợp 1, theo quan điểm thứ nhất, sẽ không bị coi là vi phạm pháp luật về ngoại hối. Tuy nhiên, những người ủng hộ quan điểm hai lại không đồng tình với lập luận đó, bởi lẽ, trong nhóm 4 hành vi liệt kê của Pháp lệnh Ngoại hối, không chỉ có cụm từ “niêm yết”, mà còn có hành vi “giao dịch” và “quảng cáo”. Giao dịch là một khái niệm rộng, từ điển tiếng Việt định nghĩa đây là hoạt động “đổi chác, mua bán, giao thiệp,...”, vậy hành vi mua và bán thông qua hợp đồng, thì việc ký hợp đồng với các điều khoản liên quan cũng sẽ nằm trong hoạt động “giao dịch” đó, hoặc việc giới thiệu giá cả hàng hóa cho các đối tác bằng ngoại tệ (vì khi gửi bản chào giá, bên bán sẽ không chỉ gửi cho một mà có thể là rất nhiều đối tác) thì cũng có thể xem như một hành vi quảng cáo về hàng hóa (làm cho đông đảo quần chúng biết đến món hàng của mình).

Do vậy, việc ghi giá  trong hợp đồng bằng ngoại tệ, bất luận trong trường hợp nào cũng vẫn bị coi là trái luật.

- Căn cứ theo chủ trương, chính sách của Nhà nước. Từ đầu năm
2011 đến nay, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ra một loạt các nghị quyết, chỉ thị về việc siết chặt quản lý ngoại hối, ngăn chặn tình trạng đô la hóa nền kinh tế. Do vậy, việc lấy tỷ giá để làm căn cứ thanh toán giá trị hợp đồng xem ra không còn phù hợp với chủ trương, chính sách của Chính phủ và các cơ quan hữu quan  trong tình hình hiện nay. Muốn ngăn chặn tình trạng đô la hóa thì không thể duy trì và công nhận việc dùng đô la hay ngoại tệ nào đó để làm cơ sở định giá và lấy tỷ giá tại thời điểm thanh toán để tính giá trị hợp đồng, vì như vậy, vẫn tiếp tục gây nên sự bất ổn đối với giá trị của tiền đồng, và doanh nghiệp sẽ vẫn tiếp tục sử dụng “con dao hai lưỡi” giữa tỷ giá và tiền đồng để đối phó với các quy định pháp luật về quản lý ngoại hối.

- Căn cứ theo tinh thần hướng dẫn của Nghị quyết 04/2003/NQ- HĐTP. Xét về hiệu lực,  Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn thực hiện hợp đồng kinh tế theo điểm a, khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên, từ ngày 1/7/2006, khi Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại
2005 có hiệu lực thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế đã hết hiệu lực. Việc viện dẫn Nghị quyết hướng dẫn cho một văn bản đã hết hiệu lực pháp luật, điều này sẽ trái với nguyên tắc áp dụng pháp luật. Do  vậy, việc các tòa án áp dụng tinh thần của điểm b, khoản 3 mục I, Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP khi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế đã hết hiệu lực, sẽ được coi như việc xét xử theo án lệ, mà ở Việt Nam, việc xét xử theo án lệ chưa được coi là một cơ sở chính thống. Từ nhận định trên, căn cứ pháp lý là Nghị quyết hướng dẫn của tòa án thiếu tính thuyết phục nếu các hợp đồng được ký kết từ ngày 1/7/2006 trở về sau. Ngoài ra, Pháp lệnh số 28 và Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ra đời sau này cũng đã có  những quy định cụ thể về quản lý ngoại hối, và hướng dẫn của tòa án đã không còn phù hợp với tinh thần của các điều luật này.

- Ngoài ra, khi ghi giá bằng ngoại tệ, lấy căn cứ tỷ giá để tính giá trị hợp đồng, đối với các doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước - người quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm bảo toàn nguồn vốn chủ sở hữu) sẽ gặp một số rủi ro pháp lý sau:

       + Có thể bị xử lý vi phạm về hành chính về việc vi phạm các quy định pháp luật về ngoại hối, hoặc thậm chí vi phạm pháp luật hình sự nếu vì việc ghi giá và căn cứ tỷ giá để tính ra Việt Nam đồng tại thời điểm thanh toán, khiến doanh nghiệp phải chịu một khoản chênh lệch lớn so với thời điểm ký hợp đồng trong trường hợp tỷ giá tăng, gây thất thoát cho tài sản của Nhà nước. Hành vi trên, nếu bị phát hiện và xử lý nghiêm khắc, có thể sẽ bị truy cứu theo Điều 165 Bộ luật Hình sự 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với tội danh “cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” nếu thiệt hại từ 100 triệu đến dưới 300 triệu (khoản 1) hoặc giá trị thiệt hại cao hơn theo các khoản 2, 3 với khung hình phạt cao nhất của loại tội phạm này lên đến 20 năm tù giam.

       + Khi bị xử lý hành chính hoặc khởi tố hình sự, khó có cơ sở viện dẫn điểm b, khoản 3, mục I, Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP để bảo vệ cho mình, vì hướng dẫn của Nghị quyết trên áp dụng cho các vụ án kinh tế và là căn cứ để xét hợp đồng vô hiệu. Còn việc người nào đó vi phạm các quy định về ngoại hối dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại tài sản cho Nhà nước thì hành vi này không còn thuần túy về mặt dân sự, mà đã có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Và việc hành vi đó có bị coi là vi phạm hành chính hay hình sự hay không, sẽ phụ thuộc vào phân tích, nhận định của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án hoặc các cơ quan khác có liên quan.

Chúng tôi đồng thuận với quan điểm thứ hai. Tuy nhiên, vì hiện nay, việc áp dụng pháp luật  về quản lý ngoại hối còn thiếu thống nhất, để kiện toàn và áp dụng các biện pháp quản lý triệt để các giao dịch bằng tiền đồng có giá trị, tôi xin đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau.


3. Một số kiến nghị để áp dụng thống nhất các quy định pháp lệnh
về quản lý ngoại hối

a) Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý ngoại hối
Sửa đổi, bổ sung Điều 22 Pháp lệnh số 28, để thống nhất cách hiểu và giải thích theo đúng tinh thần của điều luật, như sau: “Quy định hạn chế sử dụng ngoại hối: Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thỏa thuận, giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối,…”.

         Điều 10, Nghị định 160/2006/NĐ-CP quy định về đồng tiền thanh toán trong giao dịch vãng lai thiếu rõ ràng và có sự xung đột với Điều 22, Pháp lệnh số 28, Điều 5, Điều 29, Nghị định 160/ 2006/NĐ-CP. Nguyên văn Điều 10 như sau: “Đồng tiền sử dụng trong thanh toán vãng lai: (1). Người cư trú được lựa chọn đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các đồng tiền khác mà tổ chức tín  dụng  được phép chấp nhận làm đồng tiền thanh toán trong giao dịch vãng lai. (2). Trường hợp sử dụng đồng Việt Nam trong thanh toán vãng lai, người cư trú và người không cư trú được chuyển khoản thông  qua tài khoản đồng Việt Nam mở tại tổ chức tín dụng được phép”. Theo tinh thần của điều khoản này, pháp luật khuyến khích việc thanh toán bằng tiền Việt Nam đồng thời với cả những giao dịch được phép thanh toán bằng ngoại tệ (khoản 2, được chuyển khoản thông qua tổ chức tín dụng), còn với việc thanh toán bằng  ngoại tệ thì không quy định rõ ràng nên cũng không hiểu có bị cấm “chuyển khoản” hay không?). Bên cạnh đó, quy định này còn có thể gây nên cách hiểu khác: “Trong giao dịch vãng lai, thì chỉ khi thanh toán qua chuyển khoản mới cần thiết phải quy đổi sang Việt Nam đồng, còn thanh toán tiền mặt thì các bên đương sự có quyền tự do?”. Với cách diễn giải này, chúng ta sẽ nhận thấy trái với các quy định đã viện dẫn ở phần trên. Do vậy, theo suy nghĩ của tôi, khi sửa đổi, bổ sung Nghị định 160/2006/NĐ-CP, nên bỏ Điều 10 hoặc sửa theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn, tránh những cách giải thích khác nhau về điều khoản này.
         Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao sớm ban hành Nghị quyết thay thế Nghị  quyết  04/2003/NQ-HĐTP,  trong đó  có điều khoản hướng dẫn về hợp đồng kinh tế vô hiệu. Vì các văn bản quy phạm pháp luật đã có sự thay đổi và các hướng dẫn của Tòa án Nhân dân tối cao không còn phù hợp với các quy định pháp luật về chính sách cũng như các quy định pháp luật về quản lý ngoại hối ra đời sau này.

Ngân hàng Nhà nước sớm ban hành thông tư hướng dẫn cụ thể về việc siết chặt việc quản lý ngoại hối trong tình hình hiện nay, nhằm tạo một hành lang pháp lý thống nhất để các doanh nghiệp, cá nhân của Việt Nam hoặc các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện, tránh hiện tượng áp dụng luật tùy nghi như hiện nay.

b) Siết chặt việc quản lý ngoại hối từ phía các cơ quan chức năng

Để kiểm soát chặt các giao dịch ngoại hối, không chỉ phụ thuộc vào sự
nỗ lực của một số cơ quan chuyên trách như Ngân hàng Nhà nước, quản lý thị trường,... mà còn đòi hỏi sự phối kết hợp của rất nhiều các cơ quan quản lý Nhà nước khác: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, Kiểm toán,... và ý thức hiểu biết, tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, người dân. Kiểm
soát và hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế chính là một cách kiểm soát lạm phát, tăng giá trị tiền đồng, thúc đẩy xuất khẩu, ổn định và phát triển kinh tế nội địa, tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với chính sách tiền tệ của Nhà nước ta.

c) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân và doanh nghiệp
Về nguyên tắc, đối với bất kỳ một văn bản pháp quy nào, để đến được
với đông đảo quần chúng nhân dân, các cơ quan hữu quan không thể bỏ qua biện pháp tuyên truyền. Quy định về ngoại hối là một trong những vấn đề nóng và nhạy cảm, vì nó liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của các doanh nghiệp. Do vậy, việc tuyên truyền phải đi đôi với giải thích, phân tích và giải đáp được những thắc mắc, nêu được những quyền, lợi ích cũng như rủi ro của doanh nghiệp, sự tương  thích giữa lợi ích của doanh nghiệp và chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của Nhà nước, để từ đó tạo được một diễn đàn
mở với những nguồn thông tin trao đổi hai chiều để có biện pháp dung hòa lợi ích giữa các bên, góp phần đưa các quy định pháp luật đến gần hơn, hợp lý hơn đối với nhân dân.

d) Tạo một hành lang pháp lý an toàn và tạo một môi trường kinh tế nội địa ổn định, bình ổn giá trị tiền đồng để doanh nghiệp yên tâm khi thực hiện giao dịch 
Song song với các biện pháp trên thì việc xây dựng, kiểm sát việc tuân thủ các quy định pháp  luật và kiểm tra, giám sát tính khả thi của các quy định pháp luật trên thực tế, là một yêu cầu không thể thiếu đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp khi tham gia  kinh doanh. Pháp luật cần phải được hiểu và áp dụng thống nhất, nếu như có những quy định chưa rõ ràng và ra đến cơ quan chức năng, thanh tra hay tòa án, mỗi cơ quan lại có cách hiểu và xử trí khác nhau về cùng một vụ việc thì tất yếu sẽ gây nên tâm lý bất ổn cho những người thực hiện giao dịch.

Quản lý ngoại hối hiện đang là vấn đề “nóng”, các doanh nghiệp vẫn đang trông chờ vào những động thái tích cực và cụ thể từ phía Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan chức năng để tìm ra đường đi hợp lý nhất cho mình, vừa đúng luật, vừa đảm bảo lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp.
Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đã có rất nhiều bạn yêu mến. Nếu bạn cũng yêu mến hãy +1 để ủng hộ Lê Minh Trí

  • BÀI MỚI
  • BÌNH LUẬN

LIÊN KẾT WEBSITE

  • Bảo Hiểm Xã Hội TP.HCM
  • Bảo hiểm xã hội Việt Nam
  • Bộ Tài Chính
  • Chánh Đạt Online
  • Chùa Ngưỡng Quan
  • Chơn Ngọc
  • Cổng TTĐT Chính Phủ
  • Cục Thuế TP.HCM
  • Diễn Đàn Giải Pháp Excel
    Xác định các id dưới 1 khoảng cách nhất định
    9 năm trước
  • Ho Chi Minh CityWeb
  • Hải Quan Việt Nam
  • Sở Lao Động TP.HCM
  • Trang chủ Webketoan.vn
  • Tổng Cục Thuế
  • Ẩm Thực Chay
    Vò viên chay sốt cà - Chùa Giác Lâm
    8 năm trước

ĐƯỢC QUAN TÂM

  • Phụ lục 3 - CÁC MẪU HÓA ĐƠN, BẢNG BIỂU (Ban hành kèm theo Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/5/2013 của BTC)
  • TT 16/2013/TT-BTC - 08/02/2013 Hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu NSNN
  • Tổng hợp các văn bản V/v cho phép viết tắt một số chỉ tiêu trên hóa đơn được cơ quan thuế chấp thuận
  • NGHỊ ĐỊNH 66/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 06 năm 2013 của Chính Phủ QUY ĐỊNH MỨC LƯƠNG CƠ SỞ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
  • Ebook - Nghiệp vụ thuế Phiên bản 2012

THỜI GIAN LÀM VIỆC

KHÁCH VIẾNG THĂM

Sparkline
Bản Quyền 2010-2011 @ Tri Thức Kế Toán . All rights reserved.
Mọi ý kiến đóng góp hay gởi bài, vui lòng liên hệ Lê Minh Trí. leminhtri1956@yahoo.com
Designed by Thích Trí Giải | Based on SimplexDesign